Câu hỏi thường gặp
Vâng, tôi là một tu sĩ Phật giáo.
Tu sĩ Phật giáo là người dành trọn cuộc đời mình cho con đường tu tập tâm linh và sự giải thoát tối hậu mà Đức Phật, bậc Giác Ngộ, đã khám phá và giảng dạy.
Phần cốt lõi trong lời dạy của bậc Giác Ngộ là Tứ Diệu Đế.
- Có nỗi khổ vốn có trong sự hiện hữu của chúng ta,
- Nguồn gốc của nỗi khổ này là tham ái đối với dục lạc, đối với sự hiện hữu, và đối với sự không hiện hữu,
- Sự chấm dứt nỗi khổ ấy đến cùng với sự từ bỏ hoàn toàn tham ái đó,
- Có một con đường để phát triển những phẩm chất tâm linh cần thiết cho sự chấm dứt hoàn toàn nỗi khổ ấy.
Một nhà sư là người có niềm tin vào những lời dạy cốt lõi đó và cố gắng thực hành chúng theo hàng ngàn giới luật mà Đức Phật đã đặt ra cho tu sĩ. Điều này bao gồm một cuộc đời dành cho đạo đức, sự giản dị, sự thanh tịnh của ý hướng, và sự buông bỏ.
Tôi tự xem mình là người đi theo Đức Phật. Tôi có niềm tin lớn lao vào những thành tựu của Ngài cũng như sự suy xét và cẩn trọng mà Ngài đã đặt vào việc cấu trúc giáo lý và sự tu tập. Tôi cố gắng tuân theo những giới luật mà Ngài đã đặt ra một cách sát sao nhất có thể.
Còn về việc kinh văn nào tôi tin là phiên bản chân thực nhất của giáo lý và sự tu tập của Ngài, tôi tin rằng các bài kinh và Giới luật trong Tam Tạng Pāḷi là phiên bản chân thực nhất của những lời dạy của Ngài mà nói chung có thể tiếp cận được.
Vai trò của một nhà sư hướng đến sự giải thoát tối hậu và thoát ra khỏi vòng luân hồi khổ đau. Vai trò ấy nhằm mang lại nguồn cảm hứng và sự dẫn dắt hướng về một phương hướng có tiềm năng giải thoát cho tất cả chúng ta.
Cách chính yếu để đối xử với một nhà sư là với sự hiểu biết về vai trò đó. Nếu ai đó cảm thấy có cảm hứng để đến gần và tìm cầu giáo lý, cúng dường, hoặc bày tỏ những cử chỉ tôn kính, thì theo quan điểm Phật giáo, đó được xem là một hành động mang lại phước báu nghiệp quả lớn lao trong đời này hoặc sau khi qua đời.
Tu sĩ rất sẵn lòng dành cho sự dẫn dắt tâm linh vào đúng thời điểm và đúng nơi chốn, nhưng nói chung không tìm kiếm những cuộc giao tiếp xã hội không cần thiết. Đến gần họ với lòng trân quý cùng mong muốn hỗ trợ và học hỏi từ phương hướng của họ là cách giao tiếp phù hợp nhất.
Các nhà sư có nói chuyện. Thật ra, Đức Phật đã cấm các nhà sư phát nguyện tịnh khẩu. Tuy nhiên, Ngài đã đặt ra một số quy định về những hoàn cảnh mà các nhà sư thuyết giảng về giáo lý của Đức Phật.
Những câu hỏi ngắn thì luôn được hoan nghênh. Tuy nhiên, lúc đi khất thực không phải là hoàn cảnh lý tưởng cho những cuộc trao đổi tâm linh dài, vừa vì giới hạn về thời gian mà các nhà sư có liên quan đến việc thọ thực, vừa vì việc ngồi xuống và có được sự chú tâm trọn vẹn của một người là điều đáng quý. Buổi chiều hoặc sau bữa ăn thường là thời điểm tốt hơn cho những cuộc trao đổi dài hơn.
Đức Phật thật ra đã cấm các nhà sư ban phước hoặc làm cả một loạt những việc như bói toán, tiên đoán, chữa bệnh, hoặc các hình thức sinh kế thế tục. Vì vậy, tôi không thể ban phước như một hình thức sinh kế.
Tôi cố gắng là một tấm gương tốt. Khi hoàn cảnh phù hợp, tôi giảng dạy những gì tôi đã học được.
Phần lớn cuộc sống hằng ngày của tôi dành cho việc thiền tập, nghiên cứu những lời dạy của Đức Phật, giảng dạy, và lo liệu những công việc hằng ngày như đi khất thực, dọn dẹp, v.v.
Có nhiều phương tiện mà Đức Phật đã trao cho về cách nuôi dưỡng những phẩm chất thiện lành và cách từ bỏ những phẩm chất bất thiện. Vì vậy, tùy theo ngày, hoàn cảnh và trạng thái nội tâm, tôi thường sử dụng một hoặc nhiều phương tiện trong số đó.
Nói rộng ra, đó là:
- thiết lập những phẩm chất thiện lành như lòng từ, lòng bi, sự tri túc, sự quan sát,
- từ bỏ những phẩm chất bất thiện như dục vọng, sân hận, dao động, hôn trầm,
- thiết lập sự tỉnh giác về thân, về cảm thọ, về tâm, về các phẩm chất đang sinh khởi,
- hội tụ tâm,
- thấy mọi sự như chúng đang là, và
- từ bỏ tham ái.
Việc đến gần một nhà sư với những câu hỏi về nỗi khổ mà mình đang trải qua và làm thế nào để đối diện với nó, hoặc làm thế nào để phát triển những phẩm chất có thể giúp hỗ trợ một cuộc sống khéo léo và viên mãn, là hoàn toàn phù hợp.
Những câu hỏi mang tính cá nhân thì không được khuyến khích, vì vai trò của một nhà sư không nhằm mang tính cá nhân. Vai trò ấy nhằm để dẫn dắt và truyền cảm hứng rằng sự giải thoát tối hậu là điều có thể đạt được.
Thông thường nhất, người ta thấy tôi đi bộ vào buổi sáng với bình bát của mình. Khi làm vậy, tôi đang nhận thức ăn cho cả ngày. Các nhà sư không được phép sử dụng tiền hay tích trữ thức ăn, nên trừ khi tôi đang nhịn ăn hoặc một cư sĩ đã sắp xếp cúng dường một bữa ăn ngày hôm đó, tôi đi khất thực để nhận thức ăn cho cả ngày.
Đức Phật cũng đã đặt ra một giới luật cho các nhà sư rằng họ không nên nhận đi nhờ trên các phương tiện trừ khi họ bị bệnh. Khi một người cố gắng tuân theo giới luật này và giữ một chuẩn mực giản dị, điều đó thay đổi bản chất cuộc sống của người ấy. Chuẩn mực không chỉ sống không có tiền, mà còn sống một cuộc đời rất đơn sơ trong sự thanh bần, là điều quan trọng trong việc giữ cho sự tập trung hướng về tu tập tâm linh.
Phương hướng của đời sống xuất gia là một tấm gương cho thấy rằng hạnh phúc, sự bình an, và sự tự do bền vững không đến từ việc thu thập vật chất, mà đến từ việc từ bỏ vật chất, nuôi dưỡng những phẩm chất thiện lành, và buông bỏ.
Điều quan trọng là các nhà sư phải dễ tiếp cận đối với người bình thường. Việc đi bộ, dù là để du hành hay để đi khất thực hằng ngày, là một cách quan trọng để có mặt cho những ai có thể quan tâm đến việc tiếp xúc với một tu sĩ.
Khi di chuyển bằng phương tiện, người ta thường giết hại nhiều sinh vật trong quá trình đó. Nói chung, tu sĩ dành nhiều nỗ lực không chỉ để tránh cố ý giết hại sinh vật, mà còn để tránh những việc như đào xới đất, vốn có thể vô tình giết hại chúng. Khi đi bộ, người ta nói chung gây ra ít tổn hại hơn nhiều.
Đức Phật đã đặt ra một giới luật cho tu sĩ rằng khi ở trong thị trấn, trừ khi bị bệnh, tu sĩ không nên mang giày dép. Ở ngoài thị trấn hoặc khi không thể đi chân trần một cách thoải mái, dép thì được cho phép. Giày thì hầu như bị cấm đối với các nhà sư.
Có cả những lý do thực tế lẫn lý do tâm linh cho việc đi chân trần. Về mặt thực tế, đời sống của một tu sĩ hướng đến việc cố gắng sống với mức tối thiểu những gì cần thiết để duy trì thân thể. Nếu người ta có thể không cần đến một thứ gì đó, thì đó là một thứ ít hơn mà người ta phải mang theo và bận tâm.
Ngoài ra, khi đi chân trần, người ta tiếp xúc gần gũi hơn với những sinh vật hay cây cỏ mà mình có thể giẫm phải. Người ta ý thức được bất kỳ tổn hại nào mình đang gây ra cho môi trường, bởi vì người ta dễ tổn thương trước nỗi đau có thể đến từ tổn hại đó. Việc đi chân trần khiến người ta tỉnh giác và nhạy cảm hơn với thế giới xung quanh.
Về mặt tâm linh, khi đi chân trần, người ta tiếp xúc gần gũi hơn với thân thể. Càng ý thức về cái lạnh hay cái nóng, đó càng là một phương tiện để thiết lập sự tỉnh giác về những gì đang diễn ra, vốn là một phần quan trọng của con đường đi đến giác ngộ.
Việc đi chân trần và trải nghiệm sự khó chịu của nó là một lời nhắc nhở thường trực về tính dễ tổn thương của thân thể, sự mong manh của nó, và cuộc sống bấp bênh đến nhường nào. Bởi vì Đức Phật thấy rằng sự bám víu vào thân thể đã thúc đẩy nhiều nỗi đau và khổ não cùng tiến trình tái sinh vào thế giới vật chất này, nên phần lớn sự tu tập hướng đến việc từ bỏ sự bám víu vào thân thể. Việc từ bỏ sự thoải mái của mang giày là một lời nhắc nhở quan trọng về tính dễ tổn thương của nó và là một lý do để buông bỏ.
Đức Phật đã đặt ra giới luật cho các nhà sư cấm việc nhận tiền và tích trữ thức ăn. Vì vậy, mỗi ngày, trừ khi đang nhịn ăn hoặc có người đã thỉnh mời cúng dường thức ăn cho họ, họ đi khất thực. Bình bát dùng để nhận thức ăn mà mọi người tự nguyện cúng dường. Đó là thức ăn họ dùng cho cả ngày. Nếu ngày hôm đó có thức ăn dư, họ hoặc đem cho đi hoặc trả lại cho thiên nhiên.
Đức Phật đã đặt ra những quy định về loại và số lượng y áo mà một tu sĩ nên có, nhằm giới hạn y áo chỉ ở mức cần thiết và hữu dụng. Các nhà sư nói chung có ba y: một y nội, một y vai trái, và một y ngoài hai lớp.
Y áo vừa thực dụng vừa đóng vai trò như một dấu hiệu hữu ích cho thấy người ấy đang sống một đời sống từ bỏ thế tục. Việc mọi người có thể nhận ra rằng một nhà sư đang trên con đường tâm linh và đến gần họ với sự hiểu biết đó là điều hữu ích. Nó giúp định hình cuộc trao đổi và mối quan hệ theo một cách ít mang tính cá nhân hơn và hướng về tâm linh nhiều hơn.
Đức Phật đã nói rất rõ rằng tiền bạc không bao giờ nên được nhận, dù là một tu sĩ hay thậm chí một sa-di mới bắt đầu tu tập. Phương hướng căn bản của đời sống xuất gia là hướng đến việc từ bỏ sự đeo đuổi dục lạc và những khoái lạc giác quan. Tiền bạc chủ yếu phục vụ cho việc mua sắm những thứ thuộc về thế gian. Vì tính chất có thể quy đổi của nó, người cư sĩ không thể biết được liệu số tiền đó đang được tiêu cho những thứ cần thiết hay cho những sự hưởng thụ.
Thêm vào đó, việc tích lũy tiền bạc cũng có thể bảo đảm sự an toàn và ổn định. Việc từ bỏ tiền bạc buộc tu sĩ phải sống một cuộc đời dễ tổn thương hơn nhiều trước sự bất định về việc liệu người ta có cúng dường thức ăn hay những vật dụng khác hay không. Đối diện với sự bất định của cuộc sống là một phần then chốt cho phép người ta thấy được tính dễ tổn thương vốn có trong thân phận con người. Dù người ta có bao nhiêu tiền đi nữa, mọi thứ đã hợp lại đều có bản chất tan rã.
Hình thức xuất gia được lập nên nhằm cố gắng chấp nhận thực tại đó và có ý thức từ bỏ sự đeo đuổi việc cố kiểm soát và đồng hóa với thân thể của chúng ta cùng thế giới, để nuôi dưỡng những phước báu đến từ các phẩm chất thiện lành, và phát triển sự tự do đến từ việc buông bỏ.
Các nhà sư được phép nhận chỗ ở, nhưng có một số quy định. Họ không được phép ở chung phòng với người chưa thọ giới quá ba ngày, và không được phép ở chung phòng với phụ nữ dù chỉ một đêm.
Tuy nhiên, khi du hành, các nhà sư thường ngủ ngoài trời nhất. Một nhà sư có thể sống ngoài trời trong nhiều tháng hoặc có thể nhận một lời mời nếu có.
Trong bốn tháng mùa mưa của năm, các nhà sư được cho là phải trú ngụ ở một nơi và không du hành trong ba tháng đầu hoặc ba tháng cuối của khoảng thời gian đó. Nói chung bốn tháng này được giữ từ trăng tròn đến trăng tròn (Ví dụ: ở Đông Nam Á, khoảng thời gian này được giữ từ trăng tròn tháng Bảy đến trăng tròn tháng Mười Một; ở California, tôi đang giữ nó từ trăng tròn ngày 22 tháng Mười đến 21 tháng Mười Một, cho đến trăng tròn ngày 18 tháng Hai đến 20 tháng Ba).
Không. Sự độc thân là một trong những nguyên tắc nền tảng của đời sống xuất gia Phật giáo. Giới luật đầu tiên mà Đức Phật đặt ra, và là một trong những giới nghiêm trọng nhất, là nếu một tu sĩ Phật giáo hành dâm, vị ấy lập tức bị “bại trận”, lập tức không còn là nhà sư nữa, và không thể thọ giới lại trong suốt phần đời còn lại của mình.
Lý do của điều này là vì cốt lõi trong lời dạy của Đức Phật là tham ái chính là nguyên nhân gốc rễ của vòng sinh, già, và chết cùng tất cả nỗi khổ đi kèm với nó. Tham ái đối với dục lạc, bao gồm cả tham ái đối với bất kỳ khoái lạc giác quan nào, là hình thức thô tháo nhất của tham ái. Cách duy nhất để đi đến chấm dứt vòng luân hồi khổ đau là đi đến sự chấm dứt hoàn toàn tham ái vốn nuôi dưỡng những sự kết hợp kéo chúng ta trở lại với thế gian. Một trong những phẩm chất của một bậc hoàn toàn giác ngộ là họ hoàn toàn độc thân (AN 9.7).
Đôi khi có thể khó tìm gặp tôi nếu tôi đang di chuyển nay đây mai đó. Cộng đồng cư sĩ hộ pháp và nhóm WhatsApp có lẽ là cách tốt nhất để biết thông tin gần đây về nơi tôi đang ở. Bạn cứ tự nhiên gửi email đến samanasevana@gmail.com.
Nếu tôi đang ở một nơi nào đó trong một khoảng thời gian và có người mà tôi có thể báo cho biết, tôi thường thuyết giảng vào các ngày Bố-tát, các ngày trăng tròn, trăng non, và bán nguyệt; và nếu có người cúng dường cho tôi một chỗ ở, thì tôi thường có thêm thời gian rảnh nữa, thường là vào buổi chiều muộn hoặc buổi tối.
Việc đi khất thực có phần khó đoán ngay cả khi tôi ổn định, vì thường có người sẽ cúng dường một bữa ăn hoặc tôi sẽ nhịn ăn và sẽ không đi khất thực gì cả.
Tôi cố gắng thuyết giảng mỗi tuần một lần nếu có địa điểm để giảng. Thường thì hoặc là ở một công viên hoặc nơi tôi đang ở. Ngoài ra, đôi khi mọi người mời tôi đến một địa điểm khác để thuyết giảng hoặc mời tôi dùng một bữa ăn để nhận giáo lý, hoặc tại nơi tôi đang ở hoặc tại nhà của họ.